Thôn Trung Bính – Cựu danh ấp Mỹ Hòa, địa linh ven Nhật Lệ

Chủ nhật - 16/11/2025 08:53
Tục truyền rằng, vùng đất Trung Bính nay thuộc xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới, nguyên xưa là làng Trung Bính, tổng Võ Xá, phủ Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình. Đất chẳng rộng, dân chưa đông, song lịch sử hình thành lại phong phú, cốt cách làng quê ẩn tàng nhiều điều cổ hậu.
Thôn Trung Bính – Cựu danh ấp Mỹ Hòa, địa linh ven Nhật Lệ

Căn cứ gia phả các dòng họ trong thôn, từ thuở lập làng đến năm Tân Tị (2001), đã trải qua mười một thế hệ, dấu tích khai cơ mở thổ còn truyền lại khá tường tận.

I. Từ bước chân khai cương của Nghĩa chúa Nguyễn Hoàng

Năm Mậu Ngọ (1558), Đức Tiên chúa Nguyễn Hoàng, được vua Lê Anh Tông và Thái úy Trịnh Kiểm chuẩn thuận, mang quân đi vào trấn thủ đất Thuận Hóa. Khi rời quê nhà Tống Sơn, Thanh Hóa, Người chiêu nạp bao nghĩa dũng đồng hương, trong đó có sáu tộc: Đào, Hoàng, Lại, Nguyễn, Phạm, Võ – về sau trở thành Lục Tánh khai lập thôn Trung Bính.

Ban đầu, chúa đóng dinh tại Ái Tử thuộc phủ Triệu Phong (Quảng Trị). Đến đời Thế tử Nguyễn Phước Nguyên (1613), họ Nguyễn Nam triều dấy nghĩa chống họ Trịnh, lập thế phòng thủ bằng ba đại lũy: Trường Dục (1630), Trấn Ninh (1632) và Trường Sa (1633). Lũy Trường Sa – hay Sa Phụ – chạy dài từ cửa Nhật Lệ xuôi về phía Nam, giữ vai trò trọng yếu hộ phòng miền duyên hải.

Dưới lệnh Chúa, hai cánh quân thủy Trung Bính thuyềnKiên Bính thuyền được cắt cử trấn thủ hai đầu lũy. Trung Bính thuyền đóng tại xã Cừ Hà, gồm sáu vị thuộc Lục Tánh đồng hương. Mãn quân dịch, sáu vị lưu dân ở lại, dựng nhà lập ấp, mở ruộng khai cư, hình thành nền móng Ấp Mỹ Hòa.

II. Từ Ấp Mỹ Hòa đến Làng Trung Bính

Khi nhân khẩu đông, Ấp Mỹ Hòa đổi thành phường Trung Bính. Đến năm Thành Thái thứ 4 (1892), phường được sắc phong chuẩn định thành làng Trung Bính, có Lý trưởng cai quản, ban đầu độ chừng 30 hộ.

Ngoài Lục Tánh tiên cư, về sau có các họ Đoàn và một số dòng họ khác tụ cư, làm cho làng thêm phần quần cư đông đúc.

Bởi vậy mà người xưa có câu ca truyền tụng:

“Làng ta Trung Bính, Mỹ Hòa
Tống Sơn là huyện, Thanh Hoa là người.”

Để tỏ nghĩa thủy chung, trong các bài văn tế tại đình làng thuở trước, ngoài thần sắc phụng thờ do triều đình phong tặng, dân làng đều cung kính xưng danh “Lục vị thân chủ”, những bậc khai cơ lập ấp.

III. Thế đất – dân cư – mở làng dựng xóm

Buổi đầu thôn xóm hãy còn vắng, dân cư tập trung ở xóm Giữa. Về sau, làng mở xuống Sa Động (xóm Sáo) và nở lên xóm Nồm. Đến đầu thế kỷ XX, dân Trung Bính cùng Hà Thôn khai lập thêm Hà DươngMỹ Cảnh, đều nằm ven hữu ngạn sông Nhật Lệ, nơi ghe mành ra vào tấp nập, tạo nên cảnh thương hồ sầm uất một thời.

Con dân Trung Bính cũng tản cư khắp bốn phương do mưu sinh, lập nghiệp, song tình quê nghĩa xóm vẫn không phai trong ký ức bao thế hệ.

IV. Truyền thống võ bị – hiếu học song hành

Do cùng gốc với Nghĩa Chúa, người Trung Bính xưa được định lệ “Nhất dân nhất binh” – mỗi dân một lính, khác với lệ thường tại các vùng khác là “Ngũ dân nhất binh”. Bởi thế, đồng bào ở đây sớm cho con học chữ để sau ra phục vụ quân ngũ, giữ việc binh lược.

Nhờ vậy, dưới triều Nguyễn, người Trung Bính có nhiều vị đỗ đạt: Tú tài, Cử nhân, Phó bảng, và có người làm đến Đội trưởng, Xuất đội trưởng, Lãnh binh.

Đặc biệt, thời Nguyễn triều, Trung Bính từng sinh ra hai vị Thượng thư, kiêm lãnh bốn bộ:

  • Cụ Phạm Xứng – Thượng thư Bộ Binh kiêm Bộ Hình.
  • Cụ Huỳnh Côn – Thượng thư Bộ Lễ kiêm Bộ Học.

Danh tiếng lẫy lừng đến mức có câu ca suy tôn:

“Văn La song Hiệp biện,
Trung Bính tứ Thượng thư.”

Bởi trọng đạo Nho phong, làng Trung Bính tuy nhỏ mà có Văn Miếu thờ Đức Khổng Tử – dân gian quen gọi “Điện Thánh”. Đến thời Pháp thuộc, tuy chuyển sang quốc ngữ, người Trung Bính vẫn chăm lo cho con em đò qua Đồng Hới học chữ mỗi ngày. Về sau làng chung công góp của xây Trường Trung Bính, xin giáo quan về dạy – một điều hiếm thấy ở các làng nhỏ thời bấy giờ.

Chính nhờ đức hiếu học mà đã có nhiều người tiến thân: tốt nghiệp Quốc Học, trường Kỹ nghệ Huế, thậm chí đỗ Bác sĩ tại Hà Nội. Một số khác theo nghề đóng thuyền vận tải, mở đường Nam – Bắc, khiến kiến văn càng thêm mở rộng.

Trong khi đó, các bà, các chị chăm nghề nước mắm, buôn đường, muối, gạo… khiến cảnh “trên bến dưới thuyền” từng một thời rất mực thịnh vượng.

Tựu trung, thôn Trung Bính – từ cổ danh Mỹ Hòa – là vùng đất nhỏ nhưng chứa đựng khí mạch lớn: địa linh sinh nhân kiệt, văn võ song toàn, hiếu học hiếu nghĩa, khai cơ từ nghĩa binh, bền vững bởi lòng dân.

Những lớp cháu con hôm nay, dẫu đi xa muôn dặm, vẫn không quên nơi chôn nhau cắt rốn – mảnh đất ven Nhật Lệ đã dưỡng nên hồn cốt của bao thế hệ.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây